PwC mới đây đã công bố Báo cáo Chỉ số Kinh tế Net Zero lần thứ 15, một chỉ số thường niên về tiến độ giảm phát thải CO2 liên quan đến năng lượng và khử các-bon tại các nền kinh tế. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hiện trạng và tốc độ khử các-bon ở Châu Á - Thái Bình Dương, cũng như những thách thức và cơ hội trước mắt.
Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới, với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 3,9%1 (cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn cầu là 3,5%)2. Tuy nhiên, khu vực này cũng nằm trong tâm điểm của khủng hoảng khí hậu, về cả khía cạnh làm gia tăng phát thải các-bon (với lượng phát thải chiếm gần một nửa tổng số phát thải toàn cầu) và về việc phải hứng chịu các tác động vật lý của biến đổi khí hậu như các khu vực khác trên thế giới. Các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á - Thái Bình Dương là động lực tăng trưởng của khu vực, nhưng cũng chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ tác động của biến đổi khí hậu. Trong kịch bản phát thải cao, nếu không có các hành động ứng phó với biến đổi khí hậu kịp thời thì khu vực này có thể thiệt hại đến 24% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tính đến năm 2100.3
Nguồn: Báo cáo Chỉ số Kinh tế Net Zero năm 2023 của PwC và Cơ sở dữ liệu về phát thải cho Nghiên cứu Khí quyển Toàn cầu (EDGAR)4
Chú thích:
Các nền kinh tế được bao gồm trong chỉ số của khu vực Châu Á Thái Bình Dương: Úc, Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, New Zealand, Pakistan, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam
Khối E7: Khối BRICS (gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi), Indonesia, và Thổ Nhĩ Kỳ
Khối G7: Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ
Mặc dù Châu Á - Thái Bình Dương đã tiếp tục có những nỗ lực khử các-bon trong năm 2022, nhưng tốc độ khử các-bon hiện tại vẫn chưa đạt mức cần thiết. Cụ thể, tốc độ giảm cường độ phát thải các-bon của khu vực trong năm 2022 đạt mức 2,8% — tăng hơn gấp đôi so với mức 1,2% vào năm 2021 — nhưng con số này vẫn thấp hơn đáng kể so với mức 17,2% cần thiết để hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Những con số này cho thấy một bức tranh đáng quan ngại. Các nền kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi về mặt chính sách và thị trường, đặc biệt trong bối cảnh thế giới đang chuyển sự chú ý từ năng lượng tái tạo và xe điện sang các hành động giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu đa dạng hơn, hướng tới giải quyết các vấn đề về nông nghiệp, môi trường xây dựng và các ngành công nghiệp.
Một số yếu tố chính khiến khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phụ thuộc vào các nguồn năng lượng phát thải nhiều các-bon bao gồm:
Cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu
Thiếu hụt đầu tư vào năng lượng tái tạo
Sự tăng trưởng nhanh chóng của các nền kinh tế trong khu vực
Cuộc khủng hoảng năng lượng đã thay đổi các ưu tiên về chính trị - xã hội. Tại nhiều nền kinh tế, các nỗ lực tự do hóa thị trường đã chững lại, nhường sự ưu tiên cho vấn đề an ninh năng lượng. Sự gián đoạn về nguồn cung năng lượng, giá năng lượng tăng vọt, nhu cầu năng lượng tăng đột biến sau đại dịch và nhiệt độ mùa hè cao kỷ lục trong năm 2022 đã gây ra tình trạng mất điện ngoài kế hoạch và hóa đơn tiêu thụ năng lượng tăng cao. Điều này gây áp lực cho người dân và các chính phủ phải quay lại sử dụng các hình thức năng lượng rẻ hơn và phát thải nhiều hơn, ví dụ như nhiệt điện than.5 6
Thiếu hụt đầu tư vào năng lượng tái tạo. Trong năm 2022, Châu Á có công suất lắp đặt năng lượng tái tạo mới chiếm khoảng 60% tổng công suất lắp đặt mới của thế giới và có công suất năng lượng tái tạo chiếm 48% của thế giới7. Tuy nhiên, theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), các khoản đầu tư vào năng lượng sạch hàng năm của khu vực này cần tăng hơn gấp đôi từ 62,3 tỷ USD vào năm 2022 lên 138,6 tỷ USD trong giai đoạn 2026–2030, và lên đến 165,8 tỷ USD trong giai đoạn 2031–2035 để đạt cam kết phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050. IEA cũng cho biết, ngoại trừ Trung Quốc, các nước còn lại trong châu Á sẽ cần tăng 6 đến 8 lần mức đầu tư hàng năm so với năm 2022 vào giai đoạn 2031–2035.8
Cuối cùng, quy mô của các nền kinh tế khu vực đã tăng hơn gấp đôi kể từ năm 2000 với nguồn cung năng lượng có tỷ lệ tăng trưởng kép trung bình 3,7% trong hai thập kỷ qua9. Mức tăng trưởng về nhu cầu năng lượng của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á - Thái Bình Dương dự kiến sẽ chiếm gần 2/3 mức tăng của toàn cầu vào năm 2040. Các nền kinh tế này sẽ ngày càng phụ thuộc vào việc nhập khẩu năng lượng (đặc biệt là dầu khí) để duy trì tăng trưởng kinh tế.10
Những diễn biến toàn cầu gần đây chắc hẳn đã tạo ra những thách thức đáng kể cho chính phủ các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nhưng một thực tế không thể tránh khỏi là nếu tốc độ khử các-bon tiếp tục chậm lại, chúng ta sẽ sớm chạm đến các tipping points (tạm dịch: điểm tới hạn) của biến đổi khí hậu. Ngay trong năm nay, chúng ta đã có một số trải nghiệm bước đầu về hậu quả của việc này; đồng thời các phân tích sâu hơn cho thấy sẽ có nhiều hệ lụy tiềm tàng khác.
Vào năm 2023, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã phải hứng chịu nhiều sự kiện thời tiết được ghi nhận cụ thể và hệ quả của những hiện tượng này có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn nữa. Ví dụ, nguồn cung gạo – lương thực chính của châu Á – đang bị đe dọa bởi hạn hán ở Ấn Độ, hay mùa đông nóng nhất trong lịch sử đang khiến người dân Úc lo lắng về khả năng xảy ra cháy rừng vào mùa hè.
Hơn nữa, với các vùng ven biển trũng, thấp và đông dân, châu Á là khu vực dễ bị ảnh hưởng nhất bởi hiện tượng mực nước biển dâng, triều cường do bão, lũ lụt và sụt lún đất trên toàn cầu. Khoảng 70% dân số toàn cầu bị ảnh hưởng bởi mực nước biển dâng sẽ nằm trong khu vực này. Hơn 62% tài sản cơ sở hạ tầng giao thông có nguy cơ bị ngập lụt cao và nhiều siêu đô thị trong khu vực sẽ phải đối mặt với rủi ro về mực nước biển dâng và triều cường do bão11.
Nguồn: Báo cáo Chỉ số Kinh tế Net Zero năm 2023 của PwC, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)12, EDGAR, Viện Năng lượng (Energy Institute)13 và Tổ chức Climate Resource14.
Chú thích:
1 Tốc độ khử các-bon (cường độ các-bon) của các nền kinh tế chỉ bao gồm lượng phát thải từ việc sử dụng năng lượng sơ cấp, không bao gồm lượng phát thải sản sinh và được loại bỏ từ Rừng, Đất đai và Nông nghiệp (Forest, Land, and Agriculture - FLAG).
2 Số liệu của Singapore chỉ bao gồm phát thải CO2 từ năng lượng, không bao gồm phát thải CO2 từ quá trình thiêu đốt, các quy trình trong ngành công nghiệp và khí metan.
Số liệu trên cho thấy không có nền kinh tế nào thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có tốc độ khử các-bon trong năm 2022 tiệm cận với mức cần thiết để đạt mục tiêu hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5°C, dù có năm nền kinh tế đã vượt tốc độ khử các-bon cần thiết để đáp ứng mức Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Đây đều là những quốc gia nhập khẩu năng lượng ròng và đã có mức giảm về hệ số phát thải các-bon từ nhiên liệu hóa thạch (nghĩa là trở nên ít phụ thuộc hơn vào nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất năng lượng).
Pakistan là một trường hợp ngoại lệ do nước này phải đối mặt với khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng trong bối cảnh giá năng lượng toàn cầu tăng cao vào năm 2022, dẫn đến tình trạng giảm sút trong sản xuất năng lượng và nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch.15 Thoạt nhìn, việc này giúp cắt giảm một lượng lớn phát thải; nhưng trên thực tế, điều này cũng mang lại những hậu quả tiêu cực về kinh tế và xã hội, với các đợt cắt điện thường xuyên khiến gần 220 triệu người sống trong tình trạng không có điện. Điều này cho thấy tính cấp thiết của vấn đề an ninh năng lượng và chuyển đổi năng lượng công bằng trong tiến trình chuyển đổi sang trạng thái đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) tại các nền kinh tế ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.16
Ngoại trừ Pakistan, những nền kinh tế có tốc độ khử các-bon cao nhất bao gồm Singapore (10,8%), New Zealand (8,5%), Việt Nam (6,5%) và Hàn Quốc (4,4%).
Ngoài những dấu hiệu tích cực trong thời điểm hiện tại ở một số quốc gia, tốc độ khử các-bon của nhóm các nền kinh tế khác vào năm 2022 là chậm hơn so với năm 2021, đặc biệt cường độ các-bon tại một số quốc gia thậm chí còn tăng lên.
Tại Indonesia, cường độ phát thải các-bon đã có mức tăng đáng kể trong khoảng từ 15% đến 21%.17 Điều này một phần là do mức tiêu thụ năng lượng có sự phục hồi mạnh mẽ sau khi giảm đáng kể vào năm 2020 và 2021 do đại dịch COVID-19. Khi nền kinh tế hồi phục vào năm 2022, mức tiêu thụ năng lượng của quốc gia này đã vượt mức trước COVID. Cụ thể, mức tiêu thụ than tại Indonesia đã gia tăng do sự mở rộng của hoạt động chế biến khoáng sản trong nước, đặc biệt là niken cho ngành thép và pin, cùng với sự phục hồi chung của hoạt động công nghiệp. Mức tiêu thụ than tại Indonesia năm 2022 đạt 222 triệu tấn, trong khi mức tiêu thụ năm 2019 là 162 triệu tấn.18
Một số nền kinh tế khác hiện cũng chưa đạt tiến độ hiện thực hóa tham vọng khử các-bon đã đề ra, với mức thay đổi không đáng kể so với năm 2021. Hai ví dụ điển hình là Philippines và Ấn Độ, với tốc độ khử các-bon lần lượt chỉ ở mức 0,1% và 0,8%. Đây là hai quốc gia vẫn đang tiếp tục phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất năng lượng.
Phần lớn các nền kinh tế vẫn phải đối mặt với một khoảng cách đáng kể giữa tham vọng khử các-bon theo NDC và kết quả khử các-bon trong năm 2022. Ngay cả những nền kinh tế đã đạt hoặc gần đạt được các mục tiêu NDC trong năm 2022 vẫn chưa đạt được mức giảm cường độ các-bon cần thiết là 17,2% mỗi năm.
Sau Hội nghị COP26 vào năm 2021, các quốc gia đối diện với áp lực phải tăng cường mục tiêu giảm phát thải và nộp lại các cam kết NDC cho năm 2022. Lý do cho việc này là vẫn còn có một khoảng cách lớn giữa mức giảm phát thải cần thiết để hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5°C và mức giảm phát thải trong kế hoạch.19 Tuy vậy đến nay chỉ có sáu nền kinh tế ở Châu Á - Thái Bình Dương đã nộp lại cam kết NDC và chỉ một nửa trong số đó đưa ra các mục tiêu tham vọng hơn.20 Cụ thể, trong khi Úc, Thái Lan và Singapore đã tăng cường mục tiêu NDC của mình, cam kết NDC của Indonesia, Việt Nam và Ấn Độ vẫn không thay đổi.
Để đạt được tiến độ khử các-bon cần thiết trong quá trình giải quyết các thách thức về kinh tế và năng lượng, chúng ta cần một cách tiếp cận mang tính tổng hợp và tích hợp. Cách tiếp cận này cần được xây dựng dựa trên một nền tảng rộng và bao quát hơn, có trọng tâm vượt ra ngoài các sáng kiến về năng lượng tái tạo, xe điện và chuyển đổi năng lượng. Điều này là rất quan trọng, bởi trong khi lĩnh vực năng lượng và giao thông vận tải chiếm 49% lượng phát thải khí nhà kính (KNK), vẫn còn 51% còn lại đến từ ngành thực phẩm, nông nghiệp và sử dụng đất, cũng như ngành công nghiệp và môi trường xây dựng.21
Một tín hiệu tích cực là cường độ phát thải các-bon tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang đi đúng hướng (tức là đang giảm). Tuy nhiên, cường độ phát thải các-bon tại một nửa các nền kinh tế trong khu vực vẫn gần bằng hoặc trên mức trung bình toàn cầu. Chúng tôi cũng không nhận thấy sự khác biệt rõ ràng về cường độ phát thải các-bon giữa các nền kinh tế phát triển và đang phát triển. Điều này có thể là do các yếu tố địa phương như dân số, nguồn vốn và nhu cầu năng lượng. Các nền kinh tế như Úc, Việt Nam và Malaysia có cường độ phát thải các-bon tương đương nhau; Ấn Độ và Hàn Quốc cũng có các chỉ số tương tự. Do đó, có thể thấy không thể có một cách tiếp cận chung để thực hiện khử các-bon ở các quốc gia khác nhau.
Nguồn: Báo cáo Chỉ số Kinh tế Net Zero năm 2023 của PwC, IMF và Viện Năng lượng
Chú thích:
1 Cường độ phát thải các-bon của các nền kinh tế chỉ bao gồm lượng phát thải từ việc sử dụng năng lượng sơ cấp, không bao gồm lượng phát thải sản sinh và được loại bỏ từ Rừng, Đất đai và Nông nghiệp (Forest, Land, and Agriculture - FLAG).
2 Số liệu của Singapore chỉ bao gồm phát thải CO2 từ năng lượng, không bao gồm phát thải CO2 từ quá trình thiêu đốt, các quy trình công nghiệp và khí metan.
Nguồn: Báo cáo Chỉ số Kinh tế Net Zero năm 2023 của PwC, IMF và Viện Năng lượng
Lưu ý:
Chỉ số Kinh tế Net Zero tính toán cường độ phát thải các-bon (CO2 / GDP) ở phạm vi quốc gia và toàn cầu, đồng thời theo dõi tốc độ thay đổi cần thiết để hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5°C..
Cường độ phát thải các-bon, hay lượng phát thải từ việc tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị GDP, là tích số của::
- Hệ số phát thải các-bon từ nhiên liệu hóa thạch (CO2 / năng lượng): đo lường lượng CO2 thải ra trên mỗi đơn vị năng lượng tiêu thụ, hay mức độ "xanh" của năng lượng tiêu thụ.
- Cường độ năng lượng (năng lượng / GDP): đo lường lượng năng lượng tiêu thụ trên mỗi đơn vị GDP tạo ra, hay hiệu suất tiêu thụ năng lượng của GDP.
Theo Biểu đồ 4, để giảm cường độ phát thải các-bon, các nền kinh tế cần dịch chuyển về góc dưới bên trái của biểu đồ. Điều này đạt được thông qua việc giảm tỷ lệ nhiên liệu hóa thạch trong cơ cấu năng lượng (dịch chuyển sang trái) và giảm cường độ năng lượng của nền kinh tế (dịch chuyển xuống dưới).
Trong 20 năm qua, chỉ một số ít nền kinh tế khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thành công trong việc giảm cường độ phát thải các-bon một cách ổn định. Các nền kinh tế có sự tiến triển đáng kể bao gồm Úc, Trung Quốc, Malaysia, New Zealand, Hàn Quốc và Thái Lan.
Mặc dù quá trình khử các-bon có nhiều thách thức, một tín hiệu tích cực là hầu hết các nền kinh tế đang ngày càng giảm cường độ năng lượng. Điều này thể hiện ở xu thế dịch chuyển xuống dưới của các đường biểu thị trong biểu đồ.
Biểu đồ cũng cho thấy ba lộ trình khác nhau mà các nền kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương đang thực hiện:
Các nền kinh tế màu vàng đang tiến đến mức phát thải thấp hơn.
Các quốc gia này cho thấy những sự tiến bộ đáng khích lệ về cả các nỗ lực triển khai và tốc độ tiến triển. Tuy phần lớn các quốc gia này còn có cường độ phát thải các-bon cao, họ có đà tiến triển rất hứa hẹn. Hầu hết các quốc gia này đều có các chính sách về phát triển bền vững và tốc độ tăng trưởng nhanh chóng trong việc sử dụng năng lượng tái tạo và xe điện.
Các nền kinh tế màu xám đang tiến đến mức phát thải thấp hơn nhưng vẫn phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch để sản xuất năng lượng.
Nhật Bản và Singapore là những nền kinh tế phụ thuộc vào việc nhập khẩu năng lượng. Hai quốc gia này hiện đang hướng đến sử dụng các công nghệ mới như khí hydro hay thu hồi và lưu giữ các-bon (CCS) để duy trì nguồn năng lượng nhập khẩu trong khi giảm dấu chân phát thải. Trong ngắn hạn, các nước này sẽ tiếp tục sử dụng nhiên liệu hóa thạch cho đến khi các công nghệ mới được thương mại hóa và mở rộng quy mô.
Những nền kinh tế màu đỏ cho thấy tiến bộ tiêu cực hoặc chậm.
Đây chủ yếu là các nền kinh tế đang phát triển với GDP bình quân đầu người thấp và phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch để cung cấp năng lượng giá rẻ. Điều tích cực là cường độ năng lượng của các nền kinh tế này thường thấp hơn mức trung bình của các nước G7, nghĩa là việc giảm hệ số phát thải các-bon từ nhiên liệu hóa thạch (bằng cách chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo và loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch) có thể giảm đáng kể cường độ phát thải các-bon.
Các số liệu cho thấy tình hình khí hậu trong tương lai rất đáng quan ngại. Chúng ta đang đứng trên bờ vực của việc không hạn chế được tình trạng nóng lên toàn cầu ở mức 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Báo cáo năm 2022 của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) là một lời cảnh tỉnh đáng suy ngẫm về các hệ quả nguy hiểm mà thế giới sẽ phải đối mặt.22 Theo báo cáo này, các chính sách hiện hành sẽ dẫn tới sự tăng nhiệt độ ở mức 2,8°C vào cuối thế kỉ này, kéo theo những hậu quả thảm khốc cho các hệ sinh thái, xã hội và nền kinh tế. Kể cả khi chúng ta tập trung nguồn lực để thực hiện các cam kết khí hậu hiện tại, kịch bản lý tưởng nhất của cũng không có sự thay đổi đáng kể, với mức nóng lên toàn cầu từ 2,4°C đến 2,6°C trước cuối thế kỉ này. Tốc độ khử các-bon chậm trên toàn cầu đang đặt nhân loại vào một tình thế nguy cấp. Vì vậy, chúng ta cần có những hành động mang tính tập thể và toàn diện.
Song song với việc nhận thức được sự phức tạp của việc thiết lập và thực hiện các kế hoạch, chính sách và quy định chung, chúng ta cũng nhanh chóng cần có các cam kết mạnh mẽ hơn từ chính phủ và những sự hợp tác xuyên biên giới. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng có rất nhiều cách để tạo điều kiện và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi hướng tới mục tiêu net zero trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Các doanh nghiệp đang cho thấy sự chậm trễ trong việc thực hiện hóa tham vọng đạt mục tiêu phát thải ròng bằng không (net zero). Họ cần phải cân nhắc thực hiện phân tích tính trọng yếu kép (về tác động hai chiều giữa hoạt động của doanh nghiệp và các vấn đề phát triển bền vững), đồng thời huy động tất cả các phòng ban hướng tới việc chuyển đổi để đạt được net zero. Từ bộ phận sản xuất, mua hàng và tài chính tới bộ phận marketing, công nghệ và quản trị nguồn nhân lực, tất cả bộ máy cần chuyển đổi cách vận hành, xử lý và quản lý nhân sự cũng như các nguồn lực khác.
Khử các-bon là một quá trình mang tính dài hạn, và sẽ còn phức tạp cũng như gặp nhiều thách thức hơn nữa trong bối cảnh thị trường nhiều bất ổn. Việc phát triển bền vững và đạt mục tiêu net zero là những vấn đề phức tạp, với các tiêu chuẩn, quy định, khung triển khai, kỳ vọng, công nghệ và cơ sở khoa học liên tục thay đổi.
Để thành công trong bối cảnh này, các doanh nghiệp cần có sự thay đổi trong tư duy - từ tư duy hướng tới sự ổn định, chắc chắn sang tư duy hướng tới cách tiếp cận kiên trì và linh hoạt. Điều này sẽ mang lại cho doanh nghiệp khả năng thích ứng và tính bền bỉ trong hành trình hướng tới mục tiêu net zero.
Nhiều công ty vẫn nhìn nhận việc phát triển bền vững và khử các-bon theo góc nhìn ngắn hạn là nhằm tuân thủ các yêu cầu luật định. Điều này vô hình trung sẽ khiến doanh nghiệp đánh giá thấp các lợi ích tài chính dài hạn khổng lồ họ có thể tạo ra. Bằng cách tích hợp phát triển bền vững vào chiến lược tổng thể, mô hình hoạt động và các quy trình vận hành, doanh nghiệp có tiềm năng rất lớn trong việc tạo ra giá trị (Xem phần “Lộ trình tương lai cho doanh nghiệp” phía dưới).
Một quá trình chuyển đổi công bằng là yếu tố quan trọng để đảm bảo rằng các cộng đồng dễ bị tổn thương không bị bỏ lại phía sau trên hành trình hướng tới một tương lai ít phát thải các-bon, và để phân bổ hợp lý các lợi ích cũng như chi phí của công tác ứng phó với biến đổi khí hậu.
Các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME) là những ví dụ điển hình trong vấn đề này. Doanh nghiệp trong nhóm này chiếm 41% GDP khu vực châu Á - Thái Bình Dương và 69% lực lượng lao động quốc gia.23 Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ước tính đóng góp kinh tế của các doanh nghiệp này còn ở mức cao hơn, chiếm tới 85% lượng việc làm.24 Theo OECD, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên toàn cầu cũng chiếm tới ít nhất 50% lượng phát thải KNK của nhóm ngành kinh doanh.25
Như vậy, việc chuyển đổi thành công sang trạng thái net zero tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương phụ thuộc phần lớn vào sự tham gia tích cực của các MSME. Tuy nhiên, các MSME sẽ cần nhiều sự hỗ trợ để thực hiện hiệu quả quá trình chuyển đổi này. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), xét theo từng doanh nghiệp riêng lẻ, các MSME thiếu các tài nguyên và nguồn lực cần thiết để đổi mới và chuyển đổi thành công sang trạng thái net zero.26
Đây là lĩnh vực mà các doanh nghiệp lớn có thể tham gia đóng góp đáng kể. Bằng cách hợp tác với chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp với quy mô lớn hơn có thể hỗ trợ các MSME triển khai các điều chỉnh cần thiết để giảm lượng phát thải Phạm vi 3 (Scope 3) xuyên suốt chuỗi giá trị.
Lộ trình tương lai cho doanh nghiệpCác cơ hội và chiến lược kiến tạo giá trị giúp doanh nghiệp khử các-bon bao gồm:
|
Để hạn chế việc nóng lên toàn cầu ở mức 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, chúng ta cần rất nhiều sự can đảm, tầm nhìn và nỗ lực. Khoảng cách giữa tình hình hiện tại và mục tiêu đặt ra là rất đáng quan ngại, cho thấy tính cần thiết của một kỷ nguyên mới với những sự chuyển đổi đáng kể về kinh doanh và kinh tế. Câu hỏi đặt ra là: Doanh nghiệp nào sẽ là người thắng và kẻ thua trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế Net Zero?
Tìm hiểu thêm về các chỉ số và phương pháp của chúng tôi
Nguyễn Hoàng Nam
Lãnh đạo Dịch vụ Phát triển bền vững và Biến đổi khí hậu (ESG), Phó Tổng Giám đốc, Dịch vụ Kiểm toán, PwC Việt Nam
ĐT: +84 28 3823 0796
Đinh Hồng Hạnh
Phó Tổng Giám đốc, Lãnh đạo Dịch vụ Tư vấn Tài chính, PwC Việt Nam
ĐT: +84 24 3946 2246
Ong Tiong Hooi
Lãnh đạo Dịch vụ Tư vấn giao dịch, Phó Tổng Giám đốc, Dịch vụ Tư vấn Thương vụ, PwC Việt Nam
ĐT: +8493 869 9691
Giang Bảo Châu
Phó Tổng Giám đốc, Dịch vụ Tư vấn Thuế và Pháp Lý, PwC Việt Nam
ĐT: +84 28 3823 0796
Abhinav Goyal
Giám đốc, Dịch vụ Tư vấn Dự án Đầu tư và Cơ sở hạ tầng, PwC Việt Nam
ĐT: +84 906 725 575