CEO củng cố lòng tin trong năm 2014

View this page in: English

Tăng gấp đôi số người cho rằng kinh tế toàn cầu sẽ cải thiện; 39% tự tin dự báo công ty tăng trưởng
Quan ngại về việc có quá nhiều luật lệ, thâm hụt tài chính, chính sách thuế cao hơn bao giờ hết
Một nửa CEO có kế hoạch tăng lực lượng lao động

DAVOS, THỤY SỸ – ngày 24 tháng 1 năm 2014 – Số lượng CEO trên khắp thế giới tin tưởng nền kinh tế toàn cầu sẽ cải thiện trong vòng 12 tháng tới tăng gấp đôi so với năm ngoái, và 39% cho rằng họ ‘rất tự tin’ về việc tăng trưởng doanh thu của công ty họ trong năm 2014, theo kết quả khảo sát của cuộc Khảo sát CEO toàn cầu thường niên lần thứ 17 của PwC.

Kinh tế toàn cầu

Số lượng CEO dự báo kinh tế toàn cầu cải thiện trong vòng 12 tháng tới đạt 44%, tăng vọt từ mức 18% năm ngoái. Đồng thời, chỉ có 7% dự báo kinh tế toàn cầu sẽ đi xuống, so với 28% năm 2013.

Xét theo khu vực, các CEO tại Tây Âu là những người tự tin nhất về triển vọng kinh tế toàn cầu trong ngắn hạn (50%), phù hợp với các dấu hiệu cải thiện. Tiếp theo là các CEO ở Trung Đông (49%), Châu Á - Thái Bình Dương (45%), Châu Mỹ Latin (41%), Bắc Mỹ (41%) và Châu Phi (40%). Lãnh đạo doanh nghiệp ở khu vực Trung và Đông Âu cho thấy mức độ tin tưởng thấp nhất, chỉ 26%.

Xét theo ngành, CEO ngành quản lý khách sạn và nghỉ dưỡng là những người lạc quan nhất về triển vọng kinh tế trong vòng 12 tháng tới (46%), tiếp theo là ngành ngân hàng và thị trường vốn (45%), bán lẻ (44%), dịch vụ tài chính (44%), quản lý tài sản (44%), truyền thông (44%), kỹ thuật & xây dựng (41%). Các CEO ngành luyện kim là kém tin tưởng nhất, chỉ đạt 19%.

Tăng trưởng doanh thu

Đối với doanh nghiệp của chính mình, 39% CEO cho biết ‘rất tự tin’ về triển vọng tăng trưởng doanh thu trong vòng 12 tháng tới, tăng so với 36% năm ngoái. Năm 2009, lòng tin về tăng trưởng doanh thu chỉ đạt mức thấp là 21%.

Các CEO tại khu vực Trung Đông, chiếm 69%, tin tưởng mạnh mẽ nhất về tăng trưởng doanh thu trong ngắn hạn, tăng so với 53% năm ngoái. Tiếp theo là các CEO tại Châu Á - Thái Bình Dương với tỷ lệ 45%, tăng so với 36% năm ngoái.

Tại Tây Âu, lòng tin tăng 8% từ một mức thấp năm ngoái và đạt 30%. Tuy nhiên, tại Châu Phi, lòng tin tiếp tục giảm. Chỉ có 40% CEO Châu Phi rất tin tưởng vào tăng trưởng trong 12 tháng tới, giảm so với 44% năm ngoái và 57% năm 2012. Lòng tin của các CEO cũng sụt giảm còn 43% tại Châu Mỹ Latin, so với 53% năm ngoái. Trong khi đó, tỷ lệ các CEO tin tưởng vào tăng trưởng ở Bắc Mỹ vẫn giữ nguyên không đổi ở mức 33%.

Xét theo từng quốc gia riêng lẻ, tỷ lệ CEO có lòng tin rất khác xa nhau: các CEO có lòng tin mạnh mẽ chiếm tỷ lệ cao nhất tại Nga, nơi có 53% CEO rất tin tưởng vào tăng trưởng doanh thu, tiếp theo sau là Mexico (51%) và Hàn Quốc 50%. Tỷ lệ tin tưởng tăng khá mạnh tại Hàn Quốc từ mức khiêm tốn 6% năm ngoái. Tiếp theo sau là các nước Ấn Độ (49%), Trung Quốc (48%), Thụy Sỹ (42%), Brazil (42%), Hoa Kỳ (36%), Đức (33%), Anh (27%), Canada (27%), Nhật Bản (27%), Ý (27%), Pháp (22%) và cuối cùng là Argentina với chỉ 10% CEO rất tin vào tăng trưởng doanh thu trong năm 2014. (xem ghi chú 2)

********

Phát biểu về kết quả khảo sát, được công bố tại lễ khai mạc hội nghị thường niên của Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos, Thụy Sỹ, ông Dennis M. Nally, Chủ tịch HĐQT PricewaterhouseCoopers International, nói:

“Các CEO đã lấy lại được lòng tin. Họ đã thành công lãnh đạo doanh nghiệp vượt qua suy thoái và hiện nay có nhiều CEO hơn lạc quan về khả năng tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp cũng như triển vọng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, các CEO cũng công nhận là việc đảm bảo tăng trưởng bền vững trong nền kinh tế thời kỳ hậu khủng hoảng vẫn là một thách thức, đặc biệt là khi phải ứng phó với các điều kiện thay đổi liên tục như vấn đề tăng trưởng chậm lại tại các nền kinh tế mới nổi.

“Đồng thời, các CEO cũng tiếp tục có các quan ngại lớn và gửi một thông điệp rõ ràng đến chính phủ với các quan ngại về việc có quá nhiều quy định, sự thâm hụt tài chính và gánh nặng thuế.

“Bàn về tương lai, các CEO cho chúng ta biết rằng họ mong đợi ba xu hướng lớn toàn cầu – các tiến bộ khoa học công nghệ nhanh chóng, các thay đổi nhân khẩu học, và các thay đổi về quyền lực kinh tế – sẽ có tác động lớn đến tương lai của doanh nghiệp họ. Tìm cách biến các xu hướng toàn cầu này thành lợi thế của mình là chìa khóa thành công trong tương lai”.

********

Các quan ngại lớn nhất của CEO

Vì các CEO có xu hướng lạc quan về tình hình kinh tế, nên các quan ngại chính của họ cũng có sự thay đổi. Việc hành động hoặc không hành động của chính phủ là quan ngại hàng đầu của các CEO. Tỷ lệ quan ngại về việc có quá nhiều quy định (72%) và thâm hụt tài chính (71%) vẫn còn ở mức khá cao như trước đây. Các quốc gia nơi CEO đặc biệt quan ngại về việc có quá nhiều quy định gồm Pháp 88%, Úc 85%, Ấn Độ 82% và Đức 77% . Ở Hoa Kỳ, các CEO quan ngại nhất về thâm hụt tài chính với tỷ lệ 92% CEO bày tỏ quan ngại này, tiếp theo là Argentina với 90% và Pháp 84%.

Ngoài ra, các CEO cũng quan ngại nhiều về đà tăng trưởng chậm lại tại các nền kinh tế mới nổi (chiếm 65% CEO được khảo sát), cũng như tình trạng tăng trưởng trì trệ tại các thị trường phát triển (với tỷ lệ 71% CEO). Các quan ngại hàng đầu khác bao gồm sự gia tăng các gánh nặng thuế (70%), sự thiếu hụt nguồn nhân lực chủ chốt có trình độ cao (63%), tỷ giá hối đoái không ổn định (60%) và sự thiếu ổn định của các thị trường vốn (59%).

Tuy nhiên, các chủ đề nóng như nguy cơ an ninh mạng – kể cả vấn đề thiếu an ninh dữ liệu – và tốc độ thay đổi công nghệ nhanh đến chóng mặt được gần một nửa số CEO trả lời khảo sát xem là nguy cơ.

Đề cập chi tiết hơn về vấn đề quản lý nhà nước, gần 80% CEO cho biết vấn đề này làm tăng chi phí, trong khi 52% nói rằng họ gặp khó khăn nhiều hơn trong việc thu hút lao động có tay nghề cao do các vướng mắc về quy định. Đồng thời 40% cho biết các quy định khắt khe của chính phủ ngăn cản họ theo đuổi các cơ hội thị trường mới hoặc triển khai chiến lược đổi mới. Xét khía cạnh tích cực, hơn một nửa CEO cho biết quản lý nhà nước giúp cải thiện việc thực hiện dịch vụ và nâng cao tiêu chuẩn chất lượng.

Chuẩn bị cho tương lai

Khi được hỏi điều gì là động lực thúc đẩy tăng trưởng trong tương lai, 35% CEO (so với 25% năm ngoái) cho rằng việc phát triển sản phẩm, dịch vụ mới là nhân tố hàng đầu. Con số các CEO đang có kế hoạch mua bán sáp nhập doanh nghiệp hoặc thành lập liên minh chiến lược đã tăng lên 20% so với 17% cách đây một năm. Các CEO cũng cho biết họ đang tìm kiếm cơ hội tăng trưởng tại các quốc gia bên ngoài nhóm BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi), và nhìn thấy triển vọng tăng trưởng tốt trong vòng ba đến năm năm tới tại Indonesia, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan và Việt Nam. Hoa Kỳ, Đức và Anh cũng được xếp hạng cao.

Các CEO cũng thể hiện sự lạc quan nhiều hơn trong kế hoạch tuyển dụng cho năm tới. Một nửa CEO cho biết họ dự kiến bổ sung nhân sự trong vòng 12 tháng tới (năm ngoái, tỷ lệ CEO cũng có kế hoạch tăng nhân sự là 45%). Các ngành có triển vọng nghề nghiệp tích cực nhất là công nghệ (63%), dịch vụ kinh doanh (62%) và quản lý tài sản (58%) (xem ghi chú 3).

Khi nền kinh tế toàn cầu đi vào ổn định, các CEO đã nhận diện các xu hướng lớn sẽ giúp chuyển biến hoạt động kinh doanh của họ trong vòng năm năm tới. Các xu hướng hàng đầu trong số đó gồm tiến bộ khoa học công nghệ (theo 81% CEO trả lời khảo sát), tiếp đó là các thay đổi về nhân khẩu học (60%), và thay đổi về quyền lực kinh tế trên toàn cầu (59%).

Để ứng phó với các thách thức này và các thách thức khác, các CEO cho biết họ đang thay đổi chiến lược quản lý nhân tài (93%), chiến lược phát triển và giữ chân khách hàng (91%), đầu tư vào công nghệ (90%), thiết kế cơ cấu tổ chức (89%) và sử dụng và quản lý dữ liệu (88%).

Hơn một nửa CEO nói khung thời gian hoạch định hiện nay của họ là ba năm, cho dù chỉ có 40% cho rằng khung thời gian đó là lý tưởng.

Quan hệ với các Chính phủ

Khi được hỏi quan điểm về các ưu tiên cao nhất của chính phủ là gì, các CEO cho biết các ưu tiên đó nên là đảm bảo ổn định tài chính (53%), nâng cấp cơ sở hạ tầng (50%) và xây dựng một hệ thống thuế hiệu quả hơn và cạnh hơn trên trường quốc tế (50%). Tuy nhiên, chưa tới một nửa (46%) CEO cho rằng chính phủ tại quốc gia sở tại của họ đã đảm bảo ổn định tài chính một cách hiệu quả, và chỉ 37% đánh giá cao việc nâng cấp cơ sở hạ tầng. Hơn một nửa (51%) CEO nói chính phủ sở tại đã không cải thiện hệ thống thuế một cách hiệu quả.

Nộp thuế

Hệ thống thuế quốc tế không hiệu quả, theo ý kiến của các CEO trên toàn thế giới thể hiện trong kết quả khảo sát. Gần hai phần ba CEO nói hệ thống thuế quốc tế cần được kiểm tra lại toàn bộ. Đặc biệt, 75% CEO cho rằng việc được nhìn nhận là đã nộp một ‘phần thuế công bằng’ có ý nghĩa quan trọng đối với công ty họ.

Hầu hết các CEO cho rằng các chính sách thuế và tính cạnh tranh của các chế độ thuế là nhân tố chính trong việc ra quyết định của doanh nghiệp, và đồng ý rằng các công ty đa quốc gia phải báo cáo doanh thu, lợi nhuận và thuế đã nộp cho mỗi quốc gia nơi mà công ty hoạt động. Các lãnh đạo doanh nghiệp cũng đồng ý rằng các cơ quan thuế trên khắp thế giới nên chia sẻ thông tin rộng rãi về các công ty.

Tuy nhiên, chỉ có một phần tư các CEO cho biết các nỗ lực cải cách hệ thống thuế quốc tế hiện nay của OECD sẽ thành công trong vài năm tới, trong khi 40% cho rằng các nỗ lực đó sẽ không đạt được sự đồng thuận.

Kỳ vọng và lòng tin của các bên liên quan

Các CEO trên khắp thế giới cho biết kỳ vọng của các bên liên quan trong ngành của họ đã thay đổi đáng kể trong vòng năm năm qua: 52% nói lòng tin của khách hàng đã tăng lên, so với tỷ lệ 12% CEO nói điều ngược lại. Trong khi 43% nói lòng tin của các chủ nợ và nhà đầu tư đã tăng lên, thì 16% nói lòng tin đó đã giảm. Cuối cùng, 42% nói các nhà cung cấp đã tin tưởng hơn, trong khi chỉ 6% cho rằng lòng tin của các nhà cung cấp đã giảm.

Tuy nhiên, trong khi 24% CEO lạc quan về sự gia tăng lòng tin của chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, 34% nói lòng tin ấy đã giảm đi.

Đại đa số CEO cho rằng điều quan trọng đối với các công ty là đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan bằng việc thúc đẩy các hành vi đạo đức, đảm bảo sự liêm chính của các chuỗi cung ứng và tăng cường tính đa dạng.

---- Hết -----

Thông tin thêm cho tòa soạn:

1. Phương pháp khảo sát:

Đối với cuộc Khảo sát CEO toàn cầu thường niên lần thứ 17 của PwC, 1.344 cuộc phỏng vấn đã được tiến hành tại 68 quốc gia trong Quý 4 năm 2013. Tính theo vùng, 445 cuộc phỏng vấn đã được thực hiện tại Châu Á – Thái Bình Dương, 442 tại Châu Âu, 212 tại Bắc Mỹ, 165 tại Châu Mỹ Latin, 45 tại Châu Phi và 35 tại Trung Đông.

Báo cáo khảo sát đầy đủ với hình minh họa và video chất lượng cao có thể tải về tại trang web press.pwc.com. Các đoạn video từ buổi họp báo công bố khảo sát CEO tại Davos cũng sẽ được cung cấp sau sự kiện này.

2. Danh sách các quốc gia / vùng nơi các CEO cho biết họ rất tin tưởng về tăng trưởng trong 12 tháng tới

Rất tin tưởng về tăng trưởng doanh thu trong ngắn hạn

 

2014

2013

Nga

53%

66%

Mexico

51%

62%

Hàn Quốc

50%

6%

Ấn Độ

49%

63%

Trung Quốc / Hồng Kông

48%

40%

ASEAN

45%

40%

Đan Mạch

44%

NA

Thụy Sỹ

42%

18%

Brazil

42%

44%

Toàn cầu

39%

36%

Rumani

39%

42%

Hoa Kỳ

36%

30%

Úc

34%

30%

Đức

33%

31%

Scandinavia

30%

20%

Anh

27%

22%

Canada

27%

42%

Nhật Bản

27%

18%

Ý

27%

21%

Venezuela

25%

30%

Nam Phi

25%

45%

Tây Ban Nha

23%

20%

Pháp

22%

13%

Argentina

10%

26%

3. Danh sách các CEO dự kiến tăng lao động theo ngành

Tỷ lệ phần trăm CEO dự kiến tăng lao động trong 12 tháng tới (theo ngành)

 

2014

2013

Công nghệ

63%

44%

Dịch vụ kinh doanh

62%

56%

Bảo hiểm

59%

39%

Quản lý tài sản

58%

55%

Năng lượng

56%

39%

Giải trí & đa phương tiện

53%

43%

y tế

53%

43%

Ngân hàng & thị trường vốn

52%

44%

Truyền thông

52%

36%

Kỹ thuật & xây dựng

51%

52%

Khách sạn & nghỉ dưỡng

51%

33%

Bán lẻ

51%

49%

Hóa chất

49%

43%

Hàng tiêu dùng

46%

40%

Dịch vụ sản phẩm công nghiệp & tiêu dùng

46%

N/A

Sản xuất công nghiệp

46%

36%

Ô tô

45%

44%

Lâm nghiệp, giấy & đóng gói bao bì

45%

32%

Dược phẩm & khoa học đời sống

44%

38%

Vận tải & kho vận

40%

43%

Điện & tiện ích

36%

41%

Khai khoáng

25%

39%

Luyện kim

22%

28%

4. Giới thiệu PwC:

Các công ty PwC giúp các tổ chức và cá nhân tạo ra giá trị mà họ tìm kiếm. Chúng tôi là một mạng lưới các công ty tại 157 quốc gia với hơn 184.000 nhân viên chuyên cung cấp các dịch vụ đảm bảo, tư vấn thuế và tư vấn quản lý và tài chính chất lượng cao. Hãy cho chúng tôi biết điều gì quan trọng với bạn và tìm hiểu thêm thông tin tại trang web www.pwc.com và http://www.pwc.com/vn.

5. Giới thiệu PwC Việt Nam:

PwC Việt Nam thành lập văn phòng tại Hà Nội và Tp. HCM năm 1994. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi với gần 650 người Việt Nam và nước ngoài am hiểu sâu sắc môi trường kinh doanh tại Việt Nam và hiểu biết sâu rộng các chính sách và thủ tục đầu tư, thuế, pháp luật, kế toán và tư vấn trên cả nước.

PwC Việt Nam có mối quan hệ tốt với các bộ ngành then chốt, các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp nhà nước, công ty tư nhân, các tổ chức thương mại và các nhà tài trợ vốn ODA. Chúng tôi còn có một công ty luật 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam do Bộ Tư Pháp cấp giấy phép có trụ sở chính tại Tp. Hồ Chí Minh và một chi nhánh tại Hà Nội.

Chúng tôi luôn hỗ trợ vượt bậc để giúp khách hàng đạt được mục tiêu của họ. Chúng tôi có nhiều chuyên gia có năng lực chuyên sâu và kiến thức sâu sắc về các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh cần thiết cho khách hàng tại mỗi thị trường địa phương trên khắp mạng lưới của chúng tôi. Chúng tôi cung cấp dịch vụ toàn diện với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm và năng lực chuyên môn phong phú cho khách hàng ở bất kỳ nơi nào họ hoạt động kinh doanh, trên khắp Châu Á và các khu vực khác trên toàn thế giới.

PwC dẫn chiếu đến mạng lưới PwC và/hoặc một hoặc nhiều công ty thành viên của mạng lưới, mỗi công ty thành viên là một pháp nhân độc lập. Vui lòng xem trang web www.pwc.com/structure để biết thêm chi tiết.

©2014 Công ty TNHH PricewaterhouseCoopers Việt Nam. Bảo lưu mọi quyền.